TƯỚNG GIÁP

Quanlambao   Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Tướng Giáp kể: “Ông ngoại tôi vốn là một lãnh binh theo nghĩa quân Cần Vương, mỗi khi Tây về làng bà ngoại lại phải bỏ mẹ tôi vào quang thúng gánh chạy”... Tướng Giáp kể lại rằng, trong cái ngày 30-4 ấy, sau khi nhận được tin báo Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Ông đã rời Tổng Hành Dinh, một mình bước ra phố. Khi đó ông có cái cảm giác của một tướng quân đã đánh xong thành lũy cuối cùng, đã hoàn thành nhiệm vụ. Có lẽ trong giờ phút hạnh phúc đó, Tướng Giáp không thể ngờ những gì sắp xảy ra với mình...
DANH NHÂN VIỆT: _ Blog Ô Sin đăng bài về Tướng Giáp: ..."Ngoài tài năng còn có một yếu tố quan trọng khác, ông là một người có đầu óc thực tiễn ghê gớm, luôn tổng kết trong thắng, trong bại để tìm ra cách đánh mới". Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng đã quyết định thay đổi từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chậm, thắng chắc”. Một quyết định mà theo GS Phan Huy Lê, trở thành nhân tố làm nên Điện Biên Phủ. Một quyết định mà theo thượng tướng Lê Trọng Tấn, tránh cho toàn bộ lực lượng của ta bị “phơi áo” trong lòng chảo Điện Biên. Nhưng quyết định đó không chỉ là kết quả của “11 ngày đêm trăn trở”. Theo thiếu tướng Lê Phi Long, từ tháng 5-1953 sau trận Nà Sản, Đại tướng đã quyết định thành lập một Tổ Nghiên cứu 24 người nằm trong rừng lim khu căn cứ Định Hóa để “chuẩn bị lý luận đánh tập đoàn cứ điểm”. Tướng Lê Phi Long là một trong 24 sỹ quan nằm trong Tổ Nghiên cứu ấy.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944)             Tiếng vỗ tay như vỡ tung Cung Hữu Nghị Việt Xô khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhấn giọng: “Xin chào mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời đó là Tổng Tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ, người đã chấp hành triệt để và sáng tạo quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ giành toàn thắng”. Thật khó biết điều gì đang diễn ra trong lòng Tướng Giáp, từ lâu ông đã có một gương mặt rất ít biểu lộ. Nhưng, những giọt nước mắt của những người có mặt hôm ấy thì không thể kềm chế, chúng lăn rất nhanh trên má họ; lăn khi, tiếng vỗ tay vẫn cứ kéo dài. Hôm ấy là ngày 6-5-1994, tại Hà Nội, Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.               Bài diễn văn dài của Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ vỏn vẹn có 59 từ nói về Tướng Giáp, lại được viết rất công thức, “rào đón” bằng cả “Bộ Chính trị” và “Bác Hồ”. Sở dĩ, chúng có thể tạo ra sự rung động đặc biệt đến vậy, là vì đó là lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, cái tên Võ Nguyên Giáp lại được nhắc đến trong một buổi lễ chính thức. Điện Biên Phủ là một chiến thắng “chấn động”, một chiến thắng đưa Võ Nguyễn Giáp trở thành một bậc tướng huyền thoại. Nhưng, năm 1984, khi chuẩn bị số đặc biệt mừng 30 năm Điện Biên, vào giờ chót, một tờ báo lớn đã phải “bóc” hình Tướng Giáp...                Trước lễ 7-5-1994, khi gặp phỏng vấn ông, tôi đã đặt một câu hỏi mà sau đó, báo Tuổi Trẻ “tự ý đục bỏ”: Thưa Đại tướng, khi Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra, Đại tướng đang là Bộ trưởng Quốc Phòng, Bí thư Quân ủy, Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang, nhưng tại sao vai trò của Đại tướng rất ít được nhắc tới trong hồi ký Đại Thắng Mùa Xuân của tướng Văn Tiến Dũng? Tướng Giáp đáp: “Nhật ký Tổng Hành Dinh ghi rõ, trong những ngày ấy, tôi lệnh gì, anh Ba (Lê Duẩn) lệnh gì. Tôi nghĩ, các nhà sử học muốn tìm hiểu sự thật nên tiếp cận với các tài liệu chính thức ở Tổng Hành Dinh thay vì thông qua lời tuyên bố của một ai đó”. Khi nói tới “Nhật ký Tổng Hành Dinh” ông quay qua nói với thiếu tướng Lê Phi Long, người cùng có mặt trong buổi phỏng vấn: “Cậu biết rõ điều này, Phi Long”.                Thiếu tướng Lê Phi Long nguyên Cục phó Cục Tác chiến, là người từng có nhiều năm làm việc trong Tổng Hành dinh. Có những giai đoạn như Mậu Thân, tướng Long được giao nhiệm vụ theo dõi chiến trường, mỗi ngày làm 3 báo cáo, sáng (6g), trưa (12g), chiều (6g) cho một số ủy viên Bộ Chính trị. Ông, có thể nói, vừa là một chứng nhân, vừa là một n gười tạo ra lịch sử. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông Lê Phi Long là Chủ nhiệm “Hướng Tây Nguyên”, ở bên cạnh Tướng Giáp cho đến giai đoạn quyết định, được giao làm Trưởng phòng Tác chiến “Cánh quân Duyên Hải” do tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, “thần tốc” đánh từ Trị Thiên vào thẳng Dinh Độc Lập...                  Tướng Giáp kể lại rằng, trong cái ngày 30-4 ấy, sau khi nhận được tin báo Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng. Ông đã rời Tổng Hành Dinh, một mình bước ra phố. Khi đó ông có cái cảm giác của một tướng quân đã đánh xong thành lũy cuối cùng, đã hoàn thành nhiệm vụ. Có lẽ trong giờ phút hạnh phúc đó, Tướng Giáp không thể ngờ những gì sắp xảy ra với mình.               … Tháng 3 năm 1985, Tướng Giáp, lúc này đã không còn chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, vào Huế dự lễ mừng “10 năm giải phóng”. Cùng đi với ông có Tướng Lê Trọng Tấn, lúc bấy giờ là Tổng Tham mưu Trưởng và Tướng Lê Phi Long. Họ được đón tiếp khá nồng hậu và được bố trí nghỉ tại khu nhà nghỉ xưa kia của Ngô Đình Cẩn ở Huế. Tướng Lê Phi Long kể: “Anh Văn gọi tôi tới cùng đi dạo chơi quanh vườn và nói: “Lâu nay các cậu có nghe người ta nói gì về mình không?” Tôi trả lời. Anh bảo: “Sao không thấy nói lại! Trong tình hình phức tạp hiện nay, con người ta có thể bị phân hóa thành 3 thái độ: một là thẳng thắn đấu tranh bảo vệ sự thật, chân lý; hai là trong khi chưa có điều kiện nói ra sự thật thì ngồi yên kiên trì chờ đợi; ba là cơ hội, xuyên tạc, sẵn sàng đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật. Các cậu có đủ dũng khí thì theo cách một, chưa có điều kiện thì chọn cách 2, còn cách 3, thì phải tuyệt đối tránh”.                 Hôm sau, đoàn của Tướng Giáp vào Đà Nẵng bằng đường bộ. Trên đèo Hải Vân, khác với không khí nồng hậu mà Huế giành cho Đại tướng, Đà Nẵng chỉ cử một tỉnh ủy viên trẻ măng, vô danh ra đón, không có đại diện Quân khu, Tỉnh đội. Tướng Lê Phi Long nhớ lại: “Chúng tôi rất bực mình, nhưng anh Văn vẫn bình thản”. Đêm ấy, Đoàn nghỉ ở nhà khách Mỹ Khê, sáng hôm sau, theo chương trình, đoàn sẽ đến đặt vòng hoa tại đài liệt sỹ trước khi dự lễ mừng chiến thắng. Nhưng đợi mãi, không thấy ai phát thư mời và phù hiệu cho đoàn của “anh Văn”. Các sỹ quan đi cùng hỏi thì được trả lời: “Mời ai đã có chủ định, kế hoạch cả. Ai không có giấy thì coi như không được mời”.
        Lễ mừng Chiến thắng Đà Nẵng năm ấy được tổ chức trọng thể vì có Tổng Bí thư Lê Duẩn tới dự. Tướng Lê Phi Long kể, “chúng tôi rất băn khoăn, liền xin ý kiến của anh Tấn và anh Văn”. Trong đoàn có ý kiến, thôi không dự lễ nữa. Tướng Giáp suy nghĩ rất lâu rồi nhẹ nhàng nói: “Chúng ta vào đây không phải vì lễ lạt mà còn để viếng những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trên mảnh đất này. Đã tổ chức viếng thì phải tổ chức trang trọng, chu đáo theo đúng nghi thức quân đội”. Lập tức, Tướng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân Khu 5 tổ chức một lễ viếng riêng có đủ tiêu binh, quân nhạc và đích thân một vị trong Bộ Tư lệnh phải tháp tùng. Quân Khu 5, đương nhiên phải tuân lệnh. Sáng hôm sau, xung quanh đài liệt sỹ, dân chúng kéo đến rất đông, họ đến không phải được triệu tập. Họ đến để xem mặt vị tướng lừng danh mà họ vô cùng yêu mến...                   Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Tướng Giáp kể: “Ông ngoại tôi vốn là một lãnh binh theo nghĩa quân Cần Vương, mỗi khi Tây về làng bà ngoại lại phải bỏ mẹ tôi vào quang thúng gánh chạy”.                 Những năm học ở Trường Quốc học Huế, cậu Giáp học rất xuất sắc, thường tới nhà cụ Phan Bội Châu đàm đạo và được cụ Phan cho mặc sức sử dụng kho sách của mình. Giáp cũng chơi thân với thầy giáo Đặng Thai Mai. Con gái cụ Mai, bà Đặng Bích Hà, sau này là phu nhân đại tướng, kể: “Ba tôi lớn hơn nhà tôi một giáp, nhưng hai người là bạn vong niên, rất thân nhau”.
                Năm 1929, 18 tuổi, lần đầu tiên Giáp ra Hà Nội. Một người đồng chí của ông ở Tân Việt, ông Nguyễn Văn Tạo, dẫn ông ra Cửa Bắc, thành Hà Nội để nhìn hai vết đạn đại bác của Pháp đánh dấu thành Hà Nội thất thủ. Tướng giữ thành Hoàng Diệu tự sát. Lúc dạy học ở Thăng Long, ông Giáp thường nói về tinh thần yêu nước và quá khứ anh hùng. Ông vẫn thường dẫn học trò ra đê Giảng Võ coi mộ Francis Garnier; ra Cầu Giấy chỉ cho học sinh mộ Henri Rivière để nung nấu họ tinh thần chống Pháp.
                  Một trong những học trò của Tướng Giáp, ông Bùi Diễm, một người đã từng là Bộ trư ởng Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa năm 1965, nhớ lại: Khi tôi vào trường Thăng Long, nơi đây đã sôi sục ý chí chống Pháp và những cuộc tranh luận về tương lai cho xã hội Việt Nam. Ban giáo sư gồm những người như ông Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giam, Trần Văn tuyên… Nhưng trong tất cả những nhân vật đáng nhớ, đặc biệt có một người tôi khó quên: đó là ông Võ Nguyên Giáp, người dạy tôi về môn Sử. Dáng người nhỏ nhắn song nhìn vào ông thì thấy cả một bầu nhiệt huyết. Những gì về ông Giáp hồi ấy thật đặc biệt, vì vậy mà hơn nửa thế kỷ sau, tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Phần giảng dạy của ông về Nã Phá Luân (Napoléon) rất ly kỳ. Ông trình bày tường tận chiến thuật và chiến lược của Nã Phá Luân bằng cách tả rõ từng trận đánh nhỏ một. Hình như ông đã in tất cả trong đầu và Sử trở thành một phần trong con người ông. Ông như chìm đắm vào thế giới của mình và ông lôi kéo học trò vào thế giới đó. Trong giờ ông giảng, học sinh thường im lặng như tờ… (Bùi Diễm- Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai, 2000, tr. 21,22,23).
                 Lần ra Hà Nội năm 1929 để bàn với chi bộ Vinh và Hà Nội tổ chức cho Nguyễn Thị Minh Khai đi thoát ly, theo lời kể của chị Hồng Anh, con gái Tướng Giáp: “Cha tôi lần đầu tiên nghe nhắc đến cái tên Nguyễn Thị Quang Thái (cô em gái trẻ, thông minh và rất xinh đẹp của Nguyễn Thị Minh Khai-HĐ). Trong chuyến tàu cha tôi trở lại Huế, tới Vinh thì gặp mẹ tôi (Quang Thái) lên tàu, cùng với một nữ sinh Đồng Khánh. Lúc đó mẹ tôi mặc áo dài, tóc để xõa, da trắng, gương mặt sáng. Nhưng điểm gây ấn tượng với cha tôi nhất là đôi mắt”. Năm 1935, họ cưới nhau.                  Năm 1940, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng được tổ chức đưa sang Vân Nam. Giáp chia tay với người vợ trẻ Nguyễn Thị Quang Thái khi họ vừa có Hồng Anh, con gái đầu lòng. Đó là lần chia tay cuối. Sau khi Giáp ra đi, Nguyễn Thị Quang Thái bị Pháp bắt và năm 1944 chết trong nhà tù.                     Năm 1946, Võ Nguyên Giáp tới thăm gia đình ông Đặng Thai Mai khi gia đình giáo sư vừa rời Sầm Sơn ra Hà Nội sau khi từ chối một chức bộ trưởng trong chính phủ Trần Trọng Kim. Năm ấy, bà Đặng Bích Hà bước sang tuổi 19, đẹp và là “tiểu thư” trong một gia đình danh giá. Mối tình của họ đã đưa bà Đặng Bích Hà lên chiến khu, sinh cho ông thêm hai cô gái, và đúng năm 1954 sinh hạ người con trai thứ nhất, đặt tên là Võ Điện Biên.                Khi phân công trong Đảng, Hồ Chí Minh nói: “Việc quân sự giao cho chú Giáp”. Cụ Hồ cũng đã từng cử Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc học quân sự. Nhưng trên đường đi, Chiến tranh Thế giới thứ hai đưa người Pháp ở chính quốc vào thế thua, Hồ Chí Minh thấy thời cơ tới nên gọi ông trở lại. Từ đó ông không có thêm cơ hội để học qua bất cứ một trường lớp nào. Có lẽ, chính những năm dạy sử ở Trường Thăng Long đã hình thành nên tư duy quân sự ấy.                Thiếu tướng Lê Phi Long cho rằng: “Ngoài tài năng còn có một yếu tố quan trọng khác, ông là một người có đầu óc thực tiễn ghê gớm, luôn tổng kết trong thắng, trong bại để tìm ra cách đánh mới”. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng đã quyết định thay đổi từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chậm, thắng chắc”. Một quyết định mà theo GS Phan Huy Lê, trở thành nhân tố làm nên Điện Biên Phủ. Một quyết định mà theo thượng tướng Lê Trọng Tấn, tránh cho toàn bộ lực lượng của ta bị “phơi áo” trong lòng chảo Điện Biên. Nhưng quyết định đó không chỉ là kết quả của “11 ngày đêm trăn trở”. Theo thiếu tướng Lê Phi Long, từ tháng 5-1953 sau trận Nà Sản, Đại tướng đã quyết định thành lập một tổ nghiên cứu 24 người nằm trong rừng lim khu căn cứ Định Hóa để “chuẩn bị lý luận đánh tập đoàn cứ điểm”. Tướng Lê Phi Long là một trong 24 sỹ quan nằm trong “Tổ Nghiên Cứu” ấy.                  Năm 1975, kết thúc chiến tranh. Năm 1977, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cho thôi chức Bí thư Quân ủy trung ương, thôi bộ trưởng Bộ Quốc phòng, những chức vụ mà ông được giao kể từ năm 1946. Năm 1982, ông không còn là ủy viên Bộ Chính trị. Năm 1983, ông được giao kiêm nhiệm chức Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về sinh đẻ có kế hoạch. Năm 1983, dân gian làm thơ: “Nhà thơ làm kinh tế/Thống chế đi đặt vòng”. Cũng trong năm 1983 ấy, ông về quê, thảnh thơi đi bộ ra chợ Tréo (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Chợt hỏi: “Bún chợ Tréo chấm ruốc, giờ có còn ngon không?”. Mấy người dân quê nghe “bún chấm ruốc” từ miệng vị tướng lẫy lừng, không hiểu sao, òa khóc.
(Phần cuối bài này có sử dụng một số chi tiết tôi đã viết trên tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật, tháng 5-2004)
---------------------------------------------
MỘT SỐ CẢM NHẬN

1.AC-ARIZONA COWBOY
08/05/2009 7:42 pm
Kế hoạch tổng tiến công chiến lược xuân 1968 ra đời như thế nào? 

                Theo báo Quân đội nhân Dân, Thứ Tư, 09/01/2008, 09:07 (GMT + 7) có đoạn :      &nb sp;           Quân ủy Trung ương Gồm các đồng chí Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng. Khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào Nam, đồng chí Phạm Hùng thay. Các đồng chí Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn chỉ dự những cuộc họp của tập thể Bộ Chính trị.                Đáng chú ý là trong quá trình hình thành quyết tâm và kế hoạch chiến lược cũng như trong những ngày đầu của đợt 1 của cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1968, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhiều lần vắng mặt ở Tổng Hành Dinh và không tham gia một số cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng như cuộc họp của Tổ 5 đồng chí Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.quocphong.nghethuatquansu.27876.qdnd——————————-

                     ... 1963 đến 1967, Cục bảo vệ quân đội theo lệnh của Bộ nội vụ và Trưởng ban tổ chức trưng ương Đảng bắt giữ hàng loạt cán bộ ở Bộ quốc phòng, Bộ tổng tham mưu, được coi là thân cận nhất của tướng Giáp từng chiến đấu ở Điện Biên phủ . Do một số sĩ quan thân tín của ông Giáp bị xử trong ” vụ án xét lại chống Đảng” nên Tướng Giáp bị quản thúc từ năm 1967 .                    Có lẽ vì không có ông Tướng Giáp nên các trận đánh năm 68 Mậu Thân + khe sanh, Quân miền Bắc thương vong trên 160,000 quân, hầu như toàn bộ cơ sở nội thành nằm vùng bị lộ và bị tiêu diệt ( theo tài liệu hội đàm Lê Duẩn và Mao tại Bắc Kinh được bạch hoá ) .                   Từ cuộc chiến 7 ngày (5-6-1967) giữa Khối ả rập Ai cập, Siria, Jordan.. và Isarel. Mao Trạch Đông và Kissinger ( gốc Dothái) bắt tay nhau để chống Liên Xô, lúc đó đang bành trướng với khối Ả rập tại bán đảo Sinai đe doạ khống chế kinh Suez, tiêu diệt Isarel và các nước ả rập cung cấp dầu cho Mỹ .                        Năm 1969 Mỹ bắt đầu quá trình ố ạt rút hơn 500 ,000 quân khỏi VN, cắt dần viện trợ bỏ mặc miền Nam , đem toàn lực để đối phó cuộc chiến tại vùng Cận Đông bán đảo Sinai hòng bảo vệ Isarel. Đám Do thái tại Mỹ, vì quyền lợi Isarel, hậu thuẩn Đảng Dân Chủ kích động phong trào biểu tình chống việc Mỹ tham gia cuộc chiến tại Đông Dương ..                       Cuộc chiến từ năm 1969-1970 do Ai Cập khởi xướng tấn công Isarel với mục tiêu giành lại bán đảo Sinai.Cuối cùng, các bên ký kết thỏa thuận ngừng bắn và không thay đổi về lãnh thổ.                     Ngày 6-10-1973 Ai Cập tấn công vào Sinai, còn Syria tấn công vào Golan. Kết quả là quân đội của Syria và Ai Cập đều bị Israel đẩy lùi, sau đó các bên trở về vị trí cũ.                    Từ 1969 viện trợ của Trung quốc giảm rất nhiều và vận chuyển vũ khí từ Liên Xô viện trợ qua ngã Trung Quốc càng khó khăn và hay bị mất cắp, do không muốn VN có thể Thống Nhất , ngược lại để tạo thế chiến trường phối hợp chiến đấu với Khối Ả-rập, tại bán đảo Sinai, Viện trợ Vũ khí từ Liên Xô và khối Warszawa tăng lên rất nhiều và toàn vũ khí tối tân hơn hẳn quân Miền Nam như: hơn 1000 xe tăng T54 và PT76, Pháo 130mm bắn xa 27km với đạn xuyên phá bongke, hoả tiễn tầm nhiệt SA-2 , SA-7 Strella đối không, hoả tiễn chống chiến xa AT 3 - Sagger , Sam-2, Sam-3, Mig -21, Pháo phòng không 57ly, các dàn radar tối tân ,                    Tháng 9 năm 72 Miền Bắc khi các sư đoàn 2 và 3 sao vàng, 304, 308, 324B, 325, 320B, 312, …. thương vong nặng hơn 120,000 quân chết tại KonTum, Quảng trị , An Lộc, Bình Long, ( chết nhiều hơn vì Bom B52)                      Còn Quân Miền Nam hơn 60,000 lính tử trận,40% là lính Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến , Sư đoàn 22 gần như xoá sổ Lữ đoàn Thiết kỵ mất 1,170 binh sĩ, khoảng 200 thiết giáp, xe tăng gồm M-48, M-41 và M-113, 140 khẩu đại bác, Sư đoàn 3 tổng cộng có 2,700 người chết, thiệt hại tới 75%, các Liên đoàn BÐQ thiệt hại nặng trên phân nửa khả năng chiến đấu, chưa kể dân thường chết vô số. Tại Saigon nhà nào cũng có người thân leo lên bàn thờ vào năm 1972.

                  Hai Miền Nam Bắc dùng Pháo Nga, Bom Mỹ , đập nhau chí chết . Kết cục hội nghị Paris cả 2 miền đều thua , Tàu Cộng và Mỹ bắt tay nhau “tọa sơn quan song hổ đấu” bỏ mặc hai thằng Việt Nam chém nhau lòi phèo . Tuy nhiêncuộc đời có những bất ngờ.                   Năm 74 khủng hoảng gía xăng dầu tăng gấp 4 lần, vàng tăng gấp 2 gây khủng hoảng kinh tế tại nhiều nước Tư Bản , GDP của Nhật giảm 13%, Tàu xua quân chiếm Hoàng Sa, Mỹ không chỉ ngó lơ mà còn cắt giảm viện trợ Vũ khí Quân dụng , khiến lúc đó Quân miền Nam nhiều đơn vị thiếu đạn, thiếu phụ tùng thay thế cho chiến cụ , thiếu Bom, thiếu xăng, không quân thiếu những chuyến bay C-130 vận chuyển quân và vũ khí trở nên hiếm hoi. Mỗi Ngày hàng ngàn các đơn vị tiền phương điện về xin tiếp vận và câu trả lời luôn là “biết rồi ,khổ lắm, nói mãi, cố chờ “. Tướng Do Thái độc nhãn Moshé Dayan đến VN còn xúi : “Miền Nam phải thua vào tay Cộng Sản mới thắng được”.                    Đầu năm 75, Quốc Hội Mỹ giáng thêm đòn “cắt hầu hết viện trợ ” coi như tình hình Quân Lính Miền Nam chết chắc, trong khi Khối Cộng Sản và Liên Xô vẫn không ngừng viện trợ cho Miền Bắc.                Thời gian này CIA bắt liên lạc với MTGPMN và bật đèn xanh hậu thuẫn chống lưng cho đám thành phần thứ 3 tại miền Nam ra mặt gây hỗn loạn trong chính trường, giống thời giết TT Diệm, lá bài Dương Văn MInh lại được CIA sử dụng một lần nữa, ông Thiệu buộc từ chức và đi lưu vong nếu không có thể bị giết trong xe M113 như Ông DiệmNhu. Có những thoả thuận về các giải pháp cho Miền Nam giữa Mỹ và Trung Ương Cục Miền Nam tuy nhiên sau khi “Giải Phóng ” Miền Nam điều đó đã không được thực hiện do MTGPMN đã bị giải tán, nhiều người vô tù , trong đó có nhiều sĩ quan lính của Tướng Trà được học tập cải tạo chung trại với sĩ quan miền Nam.               Điệp viên CIA tiếp xúc với Tướng Trần Văn Trà, đang ở Trại David và hội đàm bí mật với Trung ương cục Miền Nam, CIA đã khẳng định thông tin Mỹ thực sự chấm dứt viện trợ cho miền Nam, không xử dụng Không yểm B52 và Pháo hạm của hạm đội 7 nữa, thời cơ chín mùi rồi, mời các ông xơi cho lẹ. Tướng Trà và Phạm Hùng đích thân tức tốc ra Bắc báo cáo tình hình và đề nghị hướng tấn công Ban Mê Thuột ngay trong năm 1975.              Chính vì có sự bảo đảm đó nên Ông Giáp mới quyết định cho bộ đội  hành quân công khai trên quốc lộ 1, dọc theo bờ biển trên 1.000km trước mũi súng của Hạm Đội 7... nếu Mỹ chỉ cần bắn chặn hoặc oanh kích tại bất cứ một điểm nào thì tình hình sẽ biến chuyển khác hẳn.hoặc cung cấp cho không quân miền Nam vài trăm trái bom CBU thì sẽ không có ngày 30-4-75. . .Do cách chỉ huy tấn công thần tốc của ông Giáp nên Trung Quốc bất ngờ không kịp trở tay, lúc đó 2 quân khu Quảng Đông và Quảng Tây đã có 200,000 Hồng Vệ Binh dàn sẵn tại biên giới Việt Trung chờ hiệu lệnh là tràn qua, với nội ứng của 100,000 thợ xây dựng, chuyên gia Trung Quốc lúc đó đang ở tại Miền Bắc, thì chỉ cần Dương Văn Minh ra lệnh tử thủ thì cuộc chiến cũng sẽ chuyển hướng khác.                Trần Văn Trà và Võ Nguyên Giáp có công lớn trong chiến thắng thần tốc tấn công Saigon tháng 4 năm 1975, nhưng bị phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng che giấu không cho phổ biến công trạng 2 ông này đến tận bây giờ.             Tướng thật sự giỏi của miền Bắc là Võ nguyên Giáp, Hoàng văn Thái, Nguyễn Hữu An, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo và Kim Tuấn (chết khi đánh Kam puchia). Giờ mới hiểu tại sao châu Âu hồi xưa tụi nó ghét người Do Thái.

2 Sự thật
08/05/2009 8:10 pm

Bài viết có nhiều điểm phiến diện, cảm tính. Tôi hoàn toàn KHÔNG đồng ý với tác giả.
Cũng như mọi người khác, tướng Giáp cũng có những điểm yếu, nhiều sai lầm trong chỉ huy. Ngay cả Nã Phá Luân (Napoleon) thần tượng của tướng Giáp cũng thua nhiều trận quan trọng và cuối cùng phải thất bại.
Vai trò của tướng Giáp trong đánh Pháp và trận Điện Biên là không thể phủ nhận, nhưng trong kháng chiến chống Mỹ thì không phải vậy. TBT Lê Duẩn đã bình luận về việc này như sau:

“Hồi đó (hồi đánh Mỹ), bộ trưởng quốc phòng nhát như thỏ đế, vừa đánh Mỹ mà vừa run như vậy này (ông co người lại run rẩy). Do đớ chúng tôi không để cho chỉ huy, chúng tôi phải trực tiếp nắm tình hình và chỉ đạo chiến tranh, và trên thực tế đã thay người khác trong nhiệm vụ Bộ trưởng Quốc phòng…”. ở một số cuộc họp khác, ở Hà Nội và Sài Gòn, ông cũng nói như vậy, đả kích rõ rệt đại tướng Võ Nguyên Giáp.
(buổi nói chuyện tại Tòa soạn báo NHÂN DÂN tháng 3.1983, trích Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín, nguyên Phó Tổng biên tập Báo ND)
Sự đánh giá của TBT Lê Duẩn là hoàn toàn khách quan và sự thật, tôi hoàn toàn đồng ý. Chính vì tướng Giáp định giữ cách đánh “chậm chạp” như thời Điện Biên, tức là cần tới 2 năm cho chiến dịch Hồ Chí Minh (từ đầu 1975 đến hết 1976). Nếu Bộ chính trị và TBT Lê Duẩn nghe theo thì bao giờ mới giải phóng được miền Nam, và nếu không thần tốc ngay trong mùa xuân 1975 thì có khi Mỹ đã quay lại và có thể đất nước vẫn còn bị chia cắt đến ngày nay.
Trích “Hồi đầu năm 1975, ông Giáp có phần lưỡng lự khi cân nhắc có nên đưa cả 15 sư đoàn bộ binh vào miền Nam không; lúc đầu ý ông dự định để quân đoàn 1 ở lại giữ “gôn”, có nghiã là giữ nhà, giữ căn cứ địa lớn của cả nước. Về sau, trên thực tế thì chỉ có 1 sư đoàn 308 ở lại mà thôi” (sách đã dẫn)
TBT Lê Duẩn đã hoàn toàn sáng suốt. Chủ trương thần tốc và quyết thắng đã thành công rực rỡ.

3 SỰ THẬT
@ Ô Sin: cám ơn anh đã trả lời. Mong anh sớm đưa ra luận điểm của mình để góp phần làm sáng tỏ sự thật lịch sử.

Về phần tôi, tôi vẫn tin là tướng Giáp không có vai trò gì lớn trong chiến thắng cuối cùng năm 1975. Tất nhiên là so với những người nổi bật hàng đầu như Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng thôi. Chứ còn ở vị trí Bộ trưởng quốc phòng kiêm Phó thủ tướng, thì chắc hẳn tướng Giáp có đóng góp gì đó rồi, ít ra thì phải ngang với các thứ trưởng quốc phòng nhàng nhàng hồi đó là Song Hào, Lê Quang Đạo, Hoàng Văn Thái… Xét cho cùng thì chiến thắng là của toàn dân tộc, mỗi cá nhân ít nhiều đều góp phần. Chúng ta bàn là vai trò của những kiến trúc sư, nhưng người tướng lĩnh cao nhất.
Việc Bộ chính trị và người lãnh đạo cao nhất là TBT Lê Duẩn không tín nhiệm tướng Giáp là rõ ràng. Cương lĩnh đấu tranh giải phóng miền Nam của Lê Duẩn không được tướng Giáp ủng hộ. Tướng Giáp nghe lời các cố vấn quân sự Trung Quốc (vẫn như thời Điện Biên hic) là chỉ nên tiến hành chiến tranh du kích chứ không nên giao chiến trực diện với Mỹ dùng các đơn vị chính quy lớn của miền Bắc. Có người còn nói tướng Giáp là người “chủ hòa” hay nói cách khác là nhu nhược không quyết tâm trong việc giải phóng miền Nam bằng mọi giá (theo quan điểm xét lại “ai thắng ai bằng kinh tế chứ không phải vũ trang” của Khơ-rut-sôp năm 1964). Tôi thì chưa tin lắm vào điều này, có thể mâu thuẫn trong chiến lược thôi chứ không phải tướng Giáp là người hèn nhát như thế.
@ Hồng Minh: các thông tin về thời kỳ này trong tài liệu lịch sử chính thức đều rất chung chung, không nói nhiều về vai trò các cá nhân mà chỉ chú trọng về thành tựu tập thể của toàn Đảng toàn quân. Tài liệu chủ yếu bạn có thể tham khảo là:

+ “Đại thắng mùa xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy cao nhất trong quân đội hồi đấy về thực chất, dù ông Dũng chỉ là Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch HCM, đại diện Bộ chính trị và Quân ủy trung ương ở chiến trường. Trước khi mất năm 1967 thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người có thực quyền cao nhất, đủ cả đức lẫn tài. Từ 1967-1972 thì các tướng lĩnh khác chưa đủ bản lĩnh để đứng cao hơn tướng Giáp, trừ tướng Dũng. Đến năm 1975 thì tình hình hoàn toàn khác, vai trò của tướng Dũng và Bộ tổng tham mưu rất quan trọng, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chính trị.
+ Hồi ký của các tướng lĩnh sĩ quan khác như Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Bùi Tín (đã trích ở trên)

4 DUY KHANH
10/05/2009 // 4:03 am
Tôi khá ngạc nhiên khi có comment cho rằng Tổng Hành Dinh (THD) toàn chuyện lặt vặt, không xứng tầm, theo tôi là ngược lại!
Một số sử liệu quan trọng trong TỔNG HÀNH DINH TRONG MÙA XUÂN TOÀN THẮNG (sau đây viết tắt THD) (t/g Võ Nguyên Giáp), xuất bản năm 2004 và được giới thiệu nhiều kỳ trên báo Tuổi trẻ.

1. Chương 3: Chiến lược giải phóng miền Nam được Bộ tổng tham mưu dự thảo từ đầu năm 1973, do tướng Lê Trọng Tấn làm Tổ trưởng dự thảo phục vụ Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương. Dự thảo lần thứ … 8 được Bộ chính trị phê duyệt ngày 26-08-1974. Chiến lược nêu trọng điểm là Nam Tây Nguyên , miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng, dự kiến giải phóng trong năm 1975-1976. (Nên nhớ Lê Trọng Tấn là đệ tử số 1 của tướng Giáp và theo tôi có công lao, tài năng nhỉnh hơn Văn Tiến Dung).

2. Chương 5: VNG là Bí thư quân uỷ, Tổng Tư lệnh, nên Văn Tiến Dũng phải xin ý kiến VNG về các quyết định quan trọng. VD: trang 168, VTD muốn đánh Đức Lập rồi mới đánh Ban Mê Thuột, VNG không đồng ý thay đổi kế hoạch.

3. VNG và Bộ TTM trực tiếp chỉ huy quân đoàn II đánh Trị-Thiên và giải phóng Huế.

4. VNG thay mặt QUTW đề nghị mở mặt trận Quảng-Đà do Lê Trọng Tấn làm tư lệnh. VNG lệnh cho LTT nội trong 3 ngày phải bay từ Hà nội vào tổ chức đánh ngay Đà Nẵng (trang 238). LTT dứt điểm Đà Nẵng trong 32 giờ !

5. Ngày 7/4 VNG điện “thần tốc, thần tốc hơn nữa. táo bạo, táo bạo hơn nữa”, cánh quân phía Đông do LTT chỉ huy 32.000 quân tiến như vũ bão giải pho’ng Phan Rang, Phan Thiết vào đến Xuân Lộc 20/04 chi viện bộ binh và pháo hạng nặng cho Trần Văn Trà dưt điểm Xuân Lộc. (trang 286)

6. VNG lệnh Hải quân và Quân khu V giải phóng Trường Sa.

7. Ngày 29/04/1975 LTT (lúc này là Phó tư lệnh chiến dịch HCM, dưới quyền Văn Tiến Dũng) điện xin VNG thảo luận với Ba Duẩn cho đánh Saigon trước 12 tiếng so với kế hoạch. VNG và Ba Duẩn đồng ý. Tu huong Dong, Lê Trọng Tấn kéo quân thẳng vào Dinh Độc Lập ngaỳ 30/04 trước các cánh quân khac! (trang 333)
Các chi tiết trên đây đều được xác nhận bằng văn bản và công điện, nên có độ tin cậy rất cao. Nếu VN có chế độ giải mật các hồ sơ tại Bộ Tổng tham mưu như ở Mỹ chẳng hạn, thì chúng ta không mất nhiều thì giờ tranh luận.
Theo tôi, Văn Tiến Dũng có vai trò quan trọng trong mặt trâ’n Tây Nguyên và chiến dịch HCM. Võ Nguyên Giáp đóng góp lớn nhất trong việc giải phóng toàn bộ miền duyên hải phía Đông và chỉ đạo hướng đánh vào Sài Gòn của cánh quân phía Đông.
Lưu ý điểm số 7 đã nêu: LTT “qua mặt” VTD điện xin trực tiếp VNG và Lê Duẩn tấn công sớm vào chiếm Dinh Độc Lập cho thấy vai trò của Bộ tư lệnh chiến dịch HCM không quan trọng như trước đây bị thổi phồng.

5. SỰ THẬT
10/05/2009 10:15 am
Nói thêm về tướng Lê Trọng Tấn, “đệ tử số 1″ của tướng Giáp. Anh Ôsin nói tướng Giáp không phải là người chịu trách nhiệm chính về thất bại 1972. Tôi không rõ điều này có đúng không, nhưng thất bại của chiến dịch Quảng Trị 1972 có trách nhiệm chính của tướng Lê Trọng Tấn, tư lệnh chiến dịch này.
Trong 80 ngày đêm tại thành cổ Quảng Trị, tướng Tấn với chiến thuật “biển người” của tướng Giáp và cố vấn Trung Quốc đã gặp sai lầm nghiêm trọng, đưa rất nhiều lực lượng tập trung vào 1 khu vực diện tích nhỏ, làm mồi ngon cho bom và pháo của quân Mỹ ngụy. Rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh ở đây, gồm cả anh Nguyễn Văn Thạc, người mới vào chiến trường chưa kịp bắn phát đạn nào thì đã hy sinh vì trúng đạn pháo. Rất đau lòng là hàng chục ngàn chiến sỹ quân giải phóng đã hy sinh ở đây mà cuối cùng vẫn không giữ được thành cổ.

Trong hồi Mậu Thân 1968, có thể anh Ôsin nói đúng là tướng Giáp không phải chịu trách nhiệm chính, vì hồi đó vụ án xét lại chống Đảng đang diễn ra với sự chỉ đạo trực tiếp của đ/c Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn, một loạt những người thân cận của tướng Giáp bị bắt và khai trừ Đảng như Đặng Kim Giang, Lê Liêm, Nguyễn Văn Vịnh, Lê Trọng Nghĩa và những nhân vật có liên quan khác như Bùi Công Trừng, Hoàng Minh Chính… Nếu đúng như nguồn tin (chưa kiểm chứng) nói là nhóm tướng lĩnh sỹ quan này có tư tưởng “chủ hòa”, không quyết tâm giải phóng miền Nam bằng mọi cách như chủ trương của Đảng thì thật là tệ hại, không thể bào chữa được. Và nếu đúng là tướng Giáp có chủ trương như thế thì việc không bị cách chức là quá may mắn. Hồi đó chưa có chủ trương sinh đẻ có kế hoạch, nếu không tướng Giáp có thể bị điều sang giữ chức “trưởng ban kế hoạch hóa gia đình” ngay từ năm 1963 chứ không đợi đến mãi sau này là 1983. Đến khoảng 1971, khi vụ án xét lại chống Đảng đã làm rõ, tướng Giáp không liên lụy, và do đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời, nên tướng Giáp mới được quyền chỉ đạo lại từ năm 1972. Tuy nhiên năm 1975 thì lại khác như tôi đã phân tích ở trên, vai trò của đại tướng Văn Tiến Dũng là rõ ràng và không thể phủ nhận như cuốn sách “Đại thắng mùa xuân 1975″ là tài liệu chính thức đầu tiên được công bố sau 1975.

6. Tam Thái
11/05/2009 1:53 am

http://www.dddn.com.vn/10551cat137/thuong-tuong-hoang-minh-thao-van-nguyen-ven-nguoi-linh-thoi-binh-lua.htm

                  Tướng Hoàng Minh Thảo xếp hạng tướng lĩnh: “:Đầu tiên là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Thứ hai là tướng Lê Trọng Tấn. Thứ ba là tướng Hoàng Văn Thái và thứ tư là tướng Nguyễn Hữu An”
                 “Chiến dịch Quảng Trị 1972 cũng vậy. Do không thực hiện đúng chỉ đạo của tướng Giáp là vòng qua Tây Huế nên khi địch phản công, chiếm lại Quảng Trị, thương vong rất cao. Sai lầm ở chiến dịch này là nghệ thuật quân sự không rõ ràng, không chú trọng phòng ngự”.
               Theo “Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên”:
               Theo kết quả bầu chọn tại Đại hội Toàn quân để bầu sĩ quan cao cấp tham dự Đại hội Đảng VI , Võ Nguyên Giáp và Lê Trọng Tấn đứng đầu danh sách 77 người tham dự Đại hội Đảng của Bộ Quốc phòng. Trong khi đó, Văn Tiến Dũng, khi đó là đương kim Bộ trưởng Quốc phòng không lọt vào danh sách này .
              Hồ Chí Minh chỉ biết sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã nổ ra khi nghe đài trong lúc đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc.


7. DUY KHANH
11/05/2009 2:03 am

@ HUNG về bức điện “thần tốc…” của tướng Giáp: nó được chụp nguyên bản, có đánh số/ngày đàng hoàng, được in lại trong cuốn Nhật ký Tổng Hành Dinh tôi đã dẫn nên bạn có thể yên tâm nó là “hàng” ngon 100%.
Tôi rất thích lối viết sử có chứng cứ như thế chứ không phải kiểu “tôi nghe nói…thế này…thế kia”, rồi nhận xét chủ quan linh tinh về các nhân vật lịch sử mà chẳng có cứ liệu gì.

8. DUY KHANH
11/05/2009 3:44 am

Tôi trân trọng giới thiệu các bạn đọc cuốn Nhật ký Tổng Hành Dinh vì những cứ liệu lịch sử quan trọng của nó, để so sánh/đối chiếu với các cuốn hồi ký khác nhằm tìm ra sự thật khách quan

@ SUTHAT
1. Như tôi đã dẫn ở comment 130, Nhật ký THD là cuốn sách có giá trị chứ không phải là chuyện “dưa cà mắm muối” như bạn nhận xét. Cuốn sách nói lên vai trò quan trọng của LD, VNG, LTT, VTD,…đóng góp vào chiến thắng, nguợc với nhận xét của bạn là “tướng Giáp không có vai trò gì lớn trong chiến thắng cuối cùng năm 1975″.
Bạn có thể không đồng ý với quan điểm của tác giả, nhưng nhận xét cuốn sách giá trị và vai trò VNG như thế là vô căn cứ và không nghiêm túc. Tôi nghĩ rằng bạn chưa đọc kỹ cuốn sách này vì thành kiến của mình.

2. Hội nghị BCT góp ý cho Kế hoạch chiến lược trước khi phê duyệt (ngày 8/10/1974 kết thúc hội nghị) đã yêu cầu bổ sung “kế hoạch tạo thời cơ và đón thời cơ”, VNG khẳng định “thời cơ chiến luợc đã đến” (trang 136). Kế hoạch thì phải trung dung, còn thực tế thuận lợi thì phải chớp thời cơ đánh nhanh thắng nhanh. Thực tế VNG đã đánh điện “thần tốc…táo bạo…” 07/04/1975 in trong sách, cánh quân phía Đông tiến nhanh nhất vào giải phóng Sài Gòn.
Trừ phi bạn dẫn ra được tài liệu nào ghi lại VNG cãi lời LD không dám đánh nhanh, thì tôi nghi nhân ý kiến của bạn. Bằng không, bạn phải chấp nhận sử liệu giấy trắng mực đen.

3. Chiến dịch tây nguyên nằm trong kế hoạch chung được phê duyệt, lại có tư lệnh là Hoàng Minh Thảo là nguời rất am tường cao nguyên và đã quần thảo nhiều trận tại khu vực này với quân đoàn 2 VNCH, nhưng tôi vẫn ghi công đầu cho VTD - là đại diện của QUTW và Bộ tư lệnh tại chiến trường.
Ngược lại, bạn cho rằng VNG - Tổng tư lệnh, bí thư QUTW; và LTT - Tư lệnh mặt trận Quảng Đà, người chấp bút Kế hoạch chiến lược không có công bằng Tư lệnh quân đaòn 2 NG Hữu An, thì thật mâu thuẫn. Lập luận thế thì VTD cũng chẳng có công trạng gì nhiều, vì Kế hoạch chung do LTT soạn, thực hiện cụ thể do Tư lệnh mặt trận Tây nguyên HMThảo.
Sách ghi rõ các bức điện VNG và LTT chỉ đạo đánh Huế Đà Nẵng (trang 222 đến 255)

4. Dứt điểm Đà Nẵng 32 tiếng mà SUTHAT cho chưa phải là tài thì thật không công bằng. Chúng ta nên nhớ, Quân đoàn IV đánh Xuân Lộc mất gần 02 tuần lễ với lực lượng áp đảo mới xong. Chúng ta cần công bằng với công lao của VNG, LTT, Ng Hữu An.

5. Nhật ký THD không hạ thấp vai trò của BTL chiến dịch HCM mà nói rõ chi tiết về Bộ TTM, với VNG và LTT chỉ huy cánh quân phía Đông tìm ra được tử huyệt của Sài Gòn nên đã chọn cách đánh vòng qua Bà Rịa, Nhơn Trạch tiến vào Sài gòn sớm nhất. Trang 333 mô tả rất lý thú VNG giữa đêm đến nhà LD đề nghị LD ký lệnh cho LTT đánh sớm, thì LD bảo “Anh là Tổng tư lệnh, anh ký tên”. Các bức điện này chắc chắn còn lưu lại đầy đủ tại Bộ TTM và dễ dàng được kiểm chứng.
Chi tiết này đắt giá, vì theo như tuyên truyền trước đây thì mọi việc trong chiến dịch HCM đều do Tư lệnh VTD quyết định, không nói gì đến VNG, nay mới thấy vai trò quan trọng của VNG trong QĐNDVN nói chung và vào việc giải phóng Sàigòn nói riêng. Nếu VTD và Lê Đức Thọ là chỉ huy tối cao toàn quyền quy

LIKE 0 | | HOME NEXT



Liên quanĐẢNG CSVN

  • Ủy ban Thường vụ QH khóa XIII họp phiên thứ 10
  • Bằng Phong: Viết cho chú ba Dũng (Tiếp theo)
  • Cực tham và cực thâm
  • CÔNG BỐ THƯ CỦA THƯ KÝ CỤ NGUYỄN VĂN LINH
  • CHÍNH TRƯỜNG VIỆT NAM THẤY GÌ NHỮNG NGÀY QUA?

  • Add a comment